Khoa học

Chỉ có dòng tâm thức tái sinh

1/09/2016 08:57:00 SA


1-Những nguyên nhân của sự chết
Chết là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Chết không phải là đoạn diệt hẳn, chết tại chỗ này nghĩa là sanh tại chỗ khác, như mặt trời lặn ở chỗ này nhưng lại mọc ở chỗ khác.
Chết, có nghĩa là chấm dứt mạng căn (jīvitindriya), sức nóng (tejodhātu) và thức (viññāṇa) của một chúng sanh.

Như vậy, chết có 4 nguyên nhân sau đây:
- Sự chấm dứt của tuổi thọ.
- Sự chấm dứt của nghiệp.
- Tuổi thọ và nghiệp cùng chấm dứt.
- Do sự xen vào của đoạn nghiệp.

1.1-Sự chấm dứt của tuổi thọ
Cái mà chúng ta thường hiểu là “chết tự nhiên”, nghĩa là chết khi đến tuổi già yếu, tuổi thọ đã hết. Tuổi thọ tuỳ thuộc cảnh giới, không hạn định được số lượng nào. Người chết do hết tuổi thọ như ngọn đèn tắt vì dầu đã cạn hoặc tim đã lụn. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp xảy ra, tuổi thọ hết nhưng nghiệp tái tạo (sanh nghiệp) của người ấy chưa chấm dứt thì sao? Nếu năng lực của nghiệp còn tiềm tàng thì người ấy có thể tiếp tục sống trong cảnh giới ấy hoặc trong một cảnh giới cao hơn.

1.2- Sự chấm dứt của nghiệp.
Đây là sự chấm dứt của sanh nghiệp hay nghiệp tái tạo trong kiếp ấy. Dù thiện dù ác, năng lực trả quả của nghiệp ấy đến lúc đó không còn diễn tiến được nữa, phải nhường chỗ cho sanh nghiệp mới hay nghiệp tái tạo mới.

Nghiệp mới ấy chính là tác hành tâm (javana) của người ấy lúc lâm chung, có sức mạnh chi phối sự tái sanh. Vào sát-na ấy, lúc sanh nghiệp cũ chấm dứt, tử diệt, một năng lực đặc biệt của sanh nghiệp mới, tạo tác nên đời sống mới, cảnh giới mới.

1.3- Tuổi thọ và nghiệp cùng diệt.
Đây là trường hợp một người chết lúc tuổi già, đồng thời “sanh nghiệp” người ấy cũng chấm dứt cùng một lúc.
Nếu trường hợp thứ nhất là đèn tắt do hết dầu, trường hợp thứ hai do tim lụn – thì trường hợp thứ ba là hết dầu và tim lụn cùng một lần.

1.4- Sự chen vào của đoạn nghiệp
Đây là sự chen vào của một nghiệp rất nặng, có công năng tiêu diệt sanh nghiệp của loài hữu tình. Đây thường là những cái chết dữ do một sát nghiệp quá nặng từ quá khứ đến lúc trổ quả. Ví như chết do bom nổ, dao đâm, xe tông, lửa cháy, chết đuối... chúng gồm tất cả các loại chết được gọi là “bất đắc kỳ tử”.
Ba loại chết đầu được gọi là chết đúng thời (kālamaraṇa), loại thứ tư, sau cùng được gọi là chết phi thời (akālamaraṇa).
Nếu một ngọn đèn bị tắt, ba loại đầu là hết dầu, tim lụn, tim và dầu cùng hết thì loại thứ tư, đoạn nghiệp được ví như gió thổi tắt.

 2- Những hiện tượng của nghiệp phát sanh trước khi chết
Đối với những người sắp sửa chết, trong khi lâm chung, do sức mạnh của nghiệp, kiết sanh thức của người ấy chịu sự tác động của một trong 4 nghiệp sau đây:
- Cực trọng nghiệp.
- Cận tử nghiệp.
- Tập quán nghiệp (thường nghiệp).
- Tích luỹ nghiệp.

Nếu là cực trọng nghiệp, dầu thiện dầu ác, thì tức khắc người lâm chung bị nghiệp này chi phối, không có nghiệp nào có khả năng chen vào được. Thứ tự ưu tiên tiếp theo là thường nghiệp (tập quán nghiệp), do thói quen bởi những hành động thường làm trong đời sống hằng ngày. Tích luỹ nghiệp, nếu được quy tụ tạo thành một khuynh hướng, một cá tính cũng có thể dẫn dắt kiết sanh thức ra đi. Còn nếu có một nghiệp được làm trước lúc chấm dứt hơi thở – cận tử nghiệp - thì nghiệp này quyết định cảnh giới tái sanh.
Tuy nhiên, dẫu là nghiệp nào đi nữa, người lâm chung sẽ bị chi phối bởi nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng như sau:

2.1- Nghiệp (kamma)
Tức là nghiệp nào có sức mạnh nhất hoặc có điều kiện nhất, không biết là thiện hay ác – một trong 4 nghiệp trên sẽ quyết định dòng tâm thức của người ấy, xảy ra tại những sát-na tác hành tâm. Chính những sát-na tác hành tâm – mà tư tác (cetanā) là năng lực điều hành sẽ nắm bắt đối tượng, hoặc thanh tịnh hoặc nhiễm ô, hoặc hỷ hoặc xả – tương ưng với cảnh giới tái sanh. Chính ở đây, sau đó, sẽ xảy ra hai biểu tướng tiếp theo là nghiệp tướng và thú tướng.

2.2- Nghiệp tướng (kammanimitta)
Nghiệp có thể đi qua 5 lộ trình của ngũ môn (5 cửa, 5 căn), sau đó được đúc kết hoặc quyết định ở lộ trình ý môn (cửa ý, ý căn). Vậy, nghiệp bao giờ cũng xảy ra từ ý căn.
Còn nghiệp tướng, tức là tướng của nghiệp, chính là những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nào mà người ấy từng kinh nghiệm, tạo tác, huân tập ở trong đời, đã trở thành quán tính, nó tự động hiện khởi rất rõ ràng trong ý môn của người lâm tử.
Ví dụ:
- Chậu máu, con dao... đối với tên đồ tể.
- Hình ảnh bệnh nhân, kim tiêm, các vị thuốc đối với lương y.
- Bình hoa, quyển kinh, hộp xá-lợi... đối với cư sĩ thuần thành.
- Mùi trầm, mùi hương hoa... đối với người hay thiết lễ cúng dường bàn thờ Phật
- Quyển sách đẹp, tập thơ trang nhã... đối với nhà văn, nhà thơ.
- Cảnh núi non sơn thuỷ hữu tình... đối với bậc ẩn sĩ...
Lúc những tướng nghiệp như trên hiện ra, ngay tức khắc sau đó là thú tướng.

2.3- Thú tướng (gatinimitta)
Đây là tướng của cảnh giới tái sanh. Tướng của cảnh giới tuỳ theo thiện hay ác, thanh tịnh hay nhiễm ô... chúng sẽ hiện ra trong ý môn của người lâm tử.

Ví dụ:
- Thấy rừng lửa, biển máu, hầm dao, chông... Đây là biểu tướng của địa ngục.
- Thấy hầm đen, sâu hun hút, tanh, hôi... là biểu tướng đi vào thai bào súc sanh.
- Thấy đường mây, đường hoa lên thiên cung, xanh tươi, đẹp đẽ, quang rạng... là biểu tượng của các cảnh trời...

Trong những sát-na này, tướng của nghiệp hiện ra như thế nào thì thức tái sanh sẽ nương gá tức khắc vào cảnh giới ấy. Vì giây phút lâm tử này quá quan trọng nên chúng ta có thể tạo cận tử nghiệp tốt cho người lâm tử, bằng cách dùng sắc tướng (tượng Phật, quyển kinh), âm thanh (tụng kinh, chuông, mõ), mùi hương (trầm)... để tạo ngũ môn và ý môn lộ trình tâm tốt, đẹp, thanh lương, trong sáng cho người ấy.

Nói tóm lại, nghiệp luôn khởi ở ý căn; nghiệp tướng có thể hiện khởi tại 1 trong 6 căn, tuỳ trường hợp; thú tướng luôn là những sắc tướng, những hình ảnh hiện khởi trong tâm như giấc chiêm bao.

 3- Lộ trình tâm của người sắp chết
Lúc nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng hiện ra, lộ trình tâm của người lâm tử sẽ nắm bắt chúng làm đối tượng, rồi các sát-na tâm sẽ diễn tiến cho đến khi kiết sanh thức nương gá vào đời sống mới; và lộ trình ấy diễn ra như sau:
- Hữu phần rung động và dừng lại 2 sát-na tâm rồi diệt.
- Ý môn hướng tâm khởi lên 1 sát-na rồi diệt.
- Tác hành tâm khởi lên 5 sát-na rồi diệt.
Đối tượng từ nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng do 5 sát-na tác hành tâm này xử sự; tuy chỉ 5 sát-na (không phải 7 như thường lệ) nhưng nó có khả năng điều hành, chi phối một đời sống mới.

Sau 5 sát-na tác hành tâm (cetāna-tư tác quyết định), 2 sát-na đồng sở duyên có thể khởi hay không khởi, tuỳ trường hợp. Có thể sau 5 sát-na tác hành tâm là tử tâm (cuti) là sát-na tâm cuối cùng trong đời sống hiện tại. Có người hiểu lầm là đời sống kế tiếp bị định đoạt bởi tử tâm cuối cùng này. Sự thật, chính tác hành tâm mới chi phối đời sống sau.

Khi tử tâm diệt, sự chết mới thật sự bắt đầu. Và sắc thân của người chết, từ đây, không có một sắc pháp nào được tạo ra do tâm hay do vật thực nữa, chỉ còn sắc do hoả đại (nóng, lạnh, thời tiết) được tạo ra, tiếp diễn cho đến khi thi thể trở thành tro bụi.

Sau khi tử tâm diệt, một kiết sanh thức do tác hành tâm quyết định có nhiệm vụ nối liền đời sống kế. Và đời sống kế lại được tiếp diễn bởi những sát-na bhavaṇga hoặc lặp đi lặp lại nhiều dòng bhavaṇga. Cho đến lúc nào ý môn hướng tâm, 5 sát-na tác hành tâm phát sanh tâm ưa thích đối với đời sống mới, lúc đó nghiệp sanh sắc đầu tiên mới tạo nên danh-sắc trong thai bào. Sau đó, dòng bhavaṇga tiếp tục khởi và diệt, chúng cứ trôi chảy mãi như dòng nước không ngưng nghỉ.

Lưu ý:
- Người ta hay nói “kiết sanh thức” là quả của tử tâm (cuti), không phải thế, nếu nói chính xác thì kiết sanh thức là năng lực do tác hành tâm tạo ra, tạm gọi là quả của tác hành tâm.
- Tử tâm không liên hệ gì đến kiết sanh thức, chỉ là tên gọi nhằm chỉ lúc danh-sắc mạng căn của nghiệp cũ chấm dứt.

4- Dòng tâm thức tái sanh
Bất cứ chúng sanh nào tới lúc tái sanh, dòng bhavaṇga trôi chảy không gián đoạn. Nếu kể về sự chết của một tâm sinh vật lý – thì lúc tử tâm báo hiệu sự chết thì kiết sanh thức nối liền đời sống kế, một dòng tâm thức (bhavaṇga) khác lại tiếp diễn. Ở đây, tử tâm, kiết sanh thức và hữu phần cùng chung một đối tượng. Các bậc có trí nói rằng cả ba tâm này cũng có cùng chung một loại tâm sở. Chúng chỉ khác nhau ở danh từ và các chức năng công tác.

Sau khi một vài sát-na nhỏ đầu tiên của hữu phần tạo nên các sắc pháp do nghiệp sanh... thì hữu phần vẫn tiếp tục trôi chảy trong đời sống mới cho đến khi hết tuổi thọ. Rồi lại tái diễn tử tâm – kiết sanh thức – hữu phần... và dòng sống ấy không bao giờ khô cạn, không bao giờ dừng nghỉ.

Nói tóm lại, cuộc tử sinh với dòng diễn biến vô tận, vô định này chỉ được chấm dứt khi không còn mọi khát vọng tầm cầu, không còn bị sự sai sử của Vô minh và Hành nữa; tức là chứng đạt và an trú đạo quả A-la-hán.
                       
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

Những bài viết liên quan

0 comments